Ethereum Foundation tách nhóm nghiên cứu bảo mật thành EthSystems, nhắm tới khách hàng ngân hàng

BitWolf 💎✋
★★★★★5.0/5 (1 bình chọn)
Ethereum Foundation tách nhóm nghiên cứu bảo mật thành EthSystems, nhắm tới khách hàng ngân hàng

EthSystems, công ty công nghệ được thành lập bởi các cựu thành viên của Ethereum Foundation, sẽ phát triển hạ tầng giao dịch bảo mật dành cho ngân hàng, công ty quản lý tài sản và các tổ chức tài chính muốn sử dụng Ethereum nhưng không thể công khai toàn bộ dữ liệu trên blockchain.

EthSystems ra đời từ nhóm nghiên cứu của Ethereum Foundation

Ngày 14/7, các cựu thành viên của Institutional Privacy Task Force thuộc Ethereum Foundation công bố thành lập EthSystems, một doanh nghiệp hoạt động vì lợi nhuận chuyên xây dựng hệ thống bảo mật cho các ứng dụng tài chính tổ chức trên Ethereum.

Đội ngũ sáng lập gồm Mo Jalil, Oskar Thorén và Aaryamann Challani. Trong khoảng một năm làm việc tại Ethereum Foundation, nhóm đã tiếp xúc với hàng trăm tổ chức, đồng thời phát triển các nguyên mẫu và tiêu chuẩn kỹ thuật liên quan đến quyền riêng tư trên blockchain.

Khác với một dự án nghiên cứu thuần túy, EthSystems hướng tới việc triển khai công nghệ từ giai đoạn thử nghiệm đến sản phẩm thực tế cho ngân hàng, công ty quản lý tài sản, nhà cung cấp hạ tầng và các tổ chức chịu sự giám sát của cơ quan quản lý.

Công ty cho biết sẽ tiếp tục thương mại hóa những công việc từng được thực hiện bên trong Ethereum Foundation, bao gồm chuyển stablecoin bí mật, phát hành và giao dịch trái phiếu riêng tư, thanh toán xuyên blockchain, cùng các đặc tả giao thức mã nguồn mở.

Tại sao EthSystems chọn mô hình vì lợi nhuận?

EthSystems lý giải rằng những hợp đồng thương mại với ngân hàng và doanh nghiệp cần một pháp nhân thương mại đứng ra chịu trách nhiệm.

Mô hình kinh doanh ban đầu của công ty chủ yếu dựa trên dịch vụ tư vấn và phát triển hệ thống theo yêu cầu. EthSystems sẽ làm việc với từng tổ chức để xác định yêu cầu pháp lý, thiết kế kiến trúc, xây dựng nguyên mẫu và hỗ trợ triển khai vào môi trường thực tế.

Nói cách khác, nhóm không thay đổi hoàn toàn công việc đã thực hiện tại Ethereum Foundation. Điểm khác biệt là EthSystems có thể ký hợp đồng, cung cấp dịch vụ và thu phí từ khách hàng tổ chức.

Cấu trúc này cũng cho phép Ethereum Foundation tiếp tục tập trung vào hoạt động nghiên cứu và quản lý giao thức mang tính trung lập, trong khi một doanh nghiệp độc lập đảm nhận các công việc thương mại có chu kỳ bán hàng, yêu cầu hỗ trợ khách hàng và trách nhiệm pháp lý rõ ràng hơn.

Blockchain công khai đang tạo ra vấn đề cho ngân hàng

Ethereum cung cấp một sổ cái chung, có thể kiểm chứng và không do một tổ chức duy nhất kiểm soát. Tuy nhiên, đặc điểm minh bạch của blockchain cũng trở thành rào cản lớn đối với các tổ chức tài chính.

Trên blockchain công khai, số dư, địa chỉ ví, quy mô giao dịch, thời điểm thanh toán và lịch sử luân chuyển tài sản có thể được bất kỳ ai theo dõi. Điều này không phù hợp với nhiều hoạt động ngân hàng, nơi thông tin về khách hàng, vị thế giao dịch và dòng tiền phải được giữ bí mật.

Ví dụ, một công ty quản lý tài sản có thể không muốn thị trường biết họ đang nắm giữ bao nhiêu trái phiếu token hóa. Một ngân hàng cũng không thể công khai toàn bộ giao dịch stablecoin giữa các chi nhánh hoặc danh tính của những khách hàng tham gia thanh toán.

EthSystems cho rằng đây là một trong những lý do khiến các tổ chức đã quan tâm đến tokenization và stablecoin nhưng vẫn chưa chuyển phần lớn hoạt động tài chính lên blockchain công khai.

“Quyền riêng tư có kiểm soát” thay vì che giấu hoàn toàn

EthSystems không hướng đến việc khiến mọi giao dịch trở nên vô hình đối với tất cả các bên. Công ty tập trung vào mô hình “selective disclosure”, tức chỉ tiết lộ thông tin cho những người có quyền truy cập.

Theo mô hình này, dữ liệu giao dịch có thể được ẩn khỏi công chúng và đối thủ cạnh tranh, nhưng vẫn được cung cấp cho kiểm toán viên, đơn vị phát hành tài sản hoặc cơ quan quản lý khi cần thiết.

Một giải pháp có thể sử dụng viewing key, loại khóa chỉ cho phép đọc dữ liệu đã mã hóa nhưng không có quyền chuyển tài sản. Khóa này có thể được giới hạn theo tài khoản, khoảng thời gian hoặc loại giao dịch cụ thể.

Nhờ đó, tổ chức có thể chứng minh đã tuân thủ các yêu cầu như KYC, chống rửa tiền hoặc báo cáo giao dịch mà không phải công khai toàn bộ thông tin lên blockchain.

Đây là khác biệt quan trọng giữa quyền riêng tư dành cho tổ chức và các công cụ ẩn danh tuyệt đối. Ngân hàng vẫn cần khả năng kiểm toán, lưu trữ hồ sơ và cung cấp dữ liệu cho cơ quan chức năng, nhưng không muốn thông tin đó bị phơi bày trước toàn bộ thị trường.

Từ stablecoin riêng tư đến trái phiếu token hóa

Một trong những trường hợp sử dụng chính của EthSystems là chuyển stablecoin giữa các tổ chức với phạm vi hiển thị được giới hạn cho những bên liên quan.

Công ty cũng đang nghiên cứu mô hình phát hành trái phiếu riêng tư, trong đó danh tính nhà đầu tư, lượng phân bổ và vị thế trên thị trường thứ cấp không bị công khai. Tuy nhiên, nhà phát hành và cơ quan quản lý vẫn có thể truy cập dữ liệu cần thiết.

Trong giao dịch trái phiếu, EthSystems hướng đến cơ chế delivery-versus-payment, cho phép tài sản và khoản thanh toán được chuyển đồng thời. Nếu một trong hai phần của giao dịch không hoàn tất, toàn bộ giao dịch sẽ bị hủy.

Công nghệ này có thể giúp giảm rủi ro đối tác và hạn chế nhu cầu sử dụng nhiều tầng trung gian thanh toán. Tuy nhiên, việc thực hiện thanh toán nguyên tử giữa nhiều blockchain vẫn là một bài toán chưa được giải quyết hoàn toàn, đặc biệt khi tài sản token hóa và phương tiện thanh toán nằm trên các mạng khác nhau.

Ngoài stablecoin và trái phiếu, EthSystems còn đề cập đến các hệ thống dành cho quỹ thị trường tiền tệ token hóa, giao dịch phái sinh, xác minh danh tính riêng tư và truyền lệnh giao dịch mà không làm lộ chiến lược trên mempool công khai.

Một phần trong cuộc tái cấu trúc lớn của Ethereum Foundation

EthSystems được thành lập trong bối cảnh Ethereum Foundation đang trải qua một trong những đợt thay đổi tổ chức lớn nhất trong nhiều năm.

Tháng 6/2026, Ethereum Foundation công bố cấu trúc mới gồm các nhóm phụ trách lớp giao thức, lớp truy cập, người dùng, cộng đồng và tổ chức. Foundation nhấn mạnh rằng nhiệm vụ cốt lõi của mình là bảo vệ khả năng chống kiểm duyệt, mã nguồn mở, quyền riêng tư, bảo mật và tính tự chủ của Ethereum.

Song song với quá trình này, một số nhóm từng hoạt động bên trong Ethereum Foundation đã trở thành các tổ chức độc lập.

EthLabs được thành lập dưới hình thức tổ chức phi lợi nhuận, tập trung vào nghiên cứu giao thức, khả năng mở rộng và hạ tầng Ethereum. Trong khi đó, Ethereum Institutional đảm nhận vai trò kết nối hệ sinh thái với ngân hàng, công ty quản lý tài sản, tổ chức lưu ký và các nhà cung cấp hạ tầng thị trường.

EthSystems bổ sung mảnh ghép thương mại còn thiếu: trực tiếp xây dựng và triển khai công nghệ bảo mật cho từng khách hàng tổ chức.

Sự phân chia này cho thấy Ethereum đang chuyển từ mô hình trong đó Ethereum Foundation xử lý nhiều nhiệm vụ cùng lúc sang một cấu trúc gồm nhiều tổ chức chuyên biệt. Foundation tập trung vào giao thức cốt lõi, EthLabs phụ trách nghiên cứu rộng hơn, Ethereum Institutional điều phối hoạt động tiếp cận tổ chức, còn EthSystems phát triển sản phẩm bảo mật có thể thương mại hóa.

BitMine, SharpLink và Joseph Lubin hậu thuẫn EthSystems

EthSystems nhận được sự hỗ trợ từ BitMine, SharpLink, đồng sáng lập Ethereum Joseph Lubin, SNZ và một số nhà đầu tư tập trung vào hệ sinh thái Ethereum. Giá trị cụ thể của khoản đầu tư chưa được công bố.

BitMine và SharpLink cũng là các nhà tài trợ quan trọng cho EthLabs và Ethereum Institutional. Điều này cho thấy những công ty nắm giữ lượng ETH lớn đang mở rộng vai trò từ việc tích lũy tài sản sang tài trợ cho hạ tầng, nghiên cứu và hoạt động tiếp cận tổ chức của Ethereum.

Đối với các doanh nghiệp này, việc hỗ trợ các công ty xây dựng hạ tầng Ethereum có thể giúp mở rộng nhu cầu sử dụng mạng lưới, thay vì chỉ phụ thuộc vào diễn biến giá ETH.

Quyền riêng tư có thể là bước tiếp theo của tokenization

Sự xuất hiện của EthSystems phản ánh một thay đổi trong cách các tổ chức nhìn nhận Ethereum.

Trong giai đoạn đầu, phần lớn sự quan tâm của Wall Street tập trung vào crypto như một loại tài sản đầu tư. Hiện tại, stablecoin, trái phiếu token hóa và tài sản thực đang khiến các ngân hàng xem blockchain như một loại hạ tầng vận hành và thanh toán.

Tuy nhiên, việc thử nghiệm một sản phẩm token hóa khác hoàn toàn với việc chuyển dòng tiền thực tế lên blockchain. Khi quy mô giao dịch tăng lên, các vấn đề như bảo mật dữ liệu, quyền truy cập, tuân thủ pháp lý và khả năng kiểm toán trở nên quan trọng hơn tốc độ phát hành token.

EthSystems đang đặt cược rằng Ethereum có thể giữ được tính minh bạch và khả năng kiểm chứng của blockchain công khai, đồng thời bổ sung một lớp bảo mật đủ linh hoạt cho các tổ chức tài chính.

Dù vậy, chính EthSystems thừa nhận không có một giải pháp quyền riêng tư duy nhất phù hợp với mọi trường hợp. Các hệ thống sử dụng zero-knowledge proof, shielded pool, blockchain Layer 2 riêng tư hoặc mã hóa đồng hình đều có những đánh đổi về hiệu suất, độ phức tạp, khả năng kết hợp và mức độ trưởng thành của công nghệ.

Vì vậy, thành công của EthSystems sẽ không chỉ phụ thuộc vào chất lượng công nghệ. Công ty còn phải chứng minh rằng hệ thống của mình có thể vượt qua quy trình kiểm toán, tích hợp với hạ tầng ngân hàng hiện có và đáp ứng những yêu cầu pháp lý khác nhau tại từng khu vực.

Nếu làm được điều đó, quyền riêng tư có thể trở thành lớp hạ tầng giúp Ethereum chuyển từ nơi phát hành tài sản token hóa sang một mạng lưới thực sự xử lý các dòng tiền tổ chức.

Các spinout của Ethereum Foundation có tạo ra xung đột lợi ích mới?

Việc nhiều nhóm nghiên cứu tách khỏi Ethereum Foundation có thể giúp hệ sinh thái hoạt động linh hoạt hơn, nhưng đồng thời tạo ra một câu hỏi mới: khi những người từng tham gia xây dựng định hướng kỹ thuật của Ethereum chuyển sang các tổ chức nhận vốn tư nhân, ranh giới giữa lợi ích chung của mạng lưới và lợi ích của nhà tài trợ sẽ được duy trì như thế nào?

Ethereum Foundation đang chủ động thu hẹp phạm vi hoạt động và phân chia trách nhiệm cho các nhóm chuyên biệt hơn. Trong đợt tái cấu trúc công bố tháng 6/2026, tổ chức này giảm khoảng 20% nhân sự, tương đương 54 vị trí, đồng thời chia hoạt động thành các cụm phụ trách giao thức, truy cập, người dùng, cộng đồng và tổ chức. Ethereum Foundation cho biết mục tiêu là tập trung nguồn lực vào những nhiệm vụ cốt lõi mà chỉ Foundation mới có thể đảm nhận, thay vì tiếp tục trực tiếp xử lý mọi nhu cầu phát sinh trong hệ sinh thái.

Về lý thuyết, mô hình này có thể làm Ethereum phi tập trung hơn ở cấp độ tổ chức. Thay vì một Ethereum Foundation vừa tài trợ nghiên cứu, xây dựng giao thức, làm việc với ngân hàng, hỗ trợ doanh nghiệp và quảng bá hệ sinh thái, mỗi đơn vị độc lập sẽ chịu trách nhiệm cho một lĩnh vực cụ thể.

EthSystems tập trung vào công nghệ bảo mật dành cho tổ chức. EthLabs phụ trách nghiên cứu giao thức và hạ tầng. Các tổ chức khác có thể đảm nhận hoạt động chính sách, cộng đồng hoặc kết nối với doanh nghiệp.

Vấn đề là những tổ chức mới này không tồn tại trong khoảng trống về kinh tế.

EthSystems là một công ty vì lợi nhuận, hoạt động dựa trên các hợp đồng tư vấn, xây dựng nguyên mẫu, đánh giá kiến trúc và triển khai hệ thống cho khách hàng tổ chức. Công ty thừa nhận thời gian làm việc tại Ethereum Foundation đã giúp đội ngũ tiếp xúc với hàng trăm tổ chức và mở ra nhiều mối quan hệ quan trọng. EthSystems cũng cho biết họ được hỗ trợ bởi các nhà đầu tư có lợi ích dài hạn gắn với Ethereum.

Trong khi đó, EthLabs nhận tài trợ từ BitMine, SharpLink, Joseph Lubin, SNZ và một số tổ chức khác trong hệ sinh thái. BitMine và SharpLink đều có chiến lược kinh doanh gắn trực tiếp với việc nắm giữ ETH, staking và mở rộng sự chấp nhận Ethereum trong nhóm khách hàng tổ chức.

Điều này không đồng nghĩa các nhà tài trợ đang can thiệp vào công nghệ Ethereum. Tuy nhiên, nó tạo ra một cấu trúc lợi ích cần được theo dõi.

Các công ty sở hữu lượng ETH lớn có động cơ hợp lý để tài trợ cho nghiên cứu giúp Ethereum mở rộng. Khi mạng lưới được sử dụng nhiều hơn, tài sản họ nắm giữ có thể hưởng lợi. Nhưng cũng chính vì động cơ đó, cộng đồng cần phân biệt giữa một tiêu chuẩn được phát triển vì lợi ích chung của Ethereum và một giải pháp được thiết kế chủ yếu để phục vụ nhóm nhà đầu tư hoặc khách hàng cụ thể.

Rủi ro đầu tiên nằm ở việc lựa chọn ưu tiên nghiên cứu. Một tổ chức phụ thuộc vào nguồn vốn từ các công ty treasury ETH có thể dành nhiều nguồn lực hơn cho những vấn đề giúp tăng tốc việc áp dụng Ethereum trong tài chính tổ chức, trong khi các nhu cầu khó thương mại hóa hơn như quyền riêng tư cá nhân, khả năng chạy node hoặc chống kiểm duyệt nhận được ít sự chú ý hơn.

Rủi ro thứ hai liên quan đến tiêu chuẩn kỹ thuật. EthSystems cam kết tiếp tục công bố mã nguồn, đặc tả giao thức và các nghiên cứu công khai. Tuy nhiên, hoạt động kinh doanh chính của công ty vẫn là xây dựng hệ thống riêng cho từng khách hàng. Nếu kiến thức quan trọng nhất chỉ xuất hiện trong các hợp đồng bảo mật với ngân hàng, phần giá trị được trả lại cho cộng đồng có thể nhỏ hơn phần giá trị được tạo ra từ nền tảng Ethereum.

Rủi ro thứ ba là lợi thế tiếp cận không đồng đều. Các spinout do cựu thành viên Ethereum Foundation thành lập có thể thừa hưởng danh tiếng, quan hệ và mức độ tin cậy mà một startup thông thường phải mất nhiều năm mới xây dựng được. Điều này giúp công nghệ được triển khai nhanh hơn, nhưng cũng có thể khiến một số tổ chức trở thành “cửa ngõ mặc định” giữa Ethereum và ngân hàng.

EthLabs cho biết nguồn tài trợ của mình được quản lý thông qua một đơn vị cấp vốn độc lập, nhà tài trợ không có quyền quyết định chương trình nghiên cứu, đồng thời tổ chức sẽ công bố báo cáo hàng quý và thực hiện kiểm toán hằng năm. Đây là một cơ chế quan trọng để hạn chế ảnh hưởng từ bên cấp vốn.

EthSystems, do hoạt động theo mô hình doanh nghiệp, sẽ cần một loại minh bạch khác. Thị trường không nhất thiết yêu cầu công ty công khai hợp đồng khách hàng, nhưng có thể đánh giá qua tỷ lệ công nghệ được mở, cách quản lý xung đột lợi ích, quyền sở hữu trí tuệ và mức độ phụ thuộc vào một nhóm nhà đầu tư.

Do đó, vấn đề không phải là các spinout có nên nhận vốn tư nhân hay không. Một hệ sinh thái chỉ phụ thuộc vào tài trợ từ Ethereum Foundation cũng tạo ra rủi ro tập trung.

Câu hỏi quan trọng hơn là Ethereum đang chuyển từ mô hình “một Foundation có quá nhiều quyền lực” sang một mạng lưới tổ chức độc lập, hay chỉ phân tán cùng một nhóm quyền lực sang nhiều pháp nhân khác nhau.

EthSystems thành công có thực sự tạo thêm giá trị cho ETH?

Việc ngân hàng sử dụng công nghệ do EthSystems phát triển sẽ là tín hiệu tích cực đối với vị thế của Ethereum, nhưng chưa đủ để kết luận nhu cầu đối với ETH sẽ tăng tương ứng.

Cần phân biệt rõ giữa ba khái niệm: sử dụng công nghệ Ethereum, thực hiện giao dịch trên Ethereum và tạo ra giá trị kinh tế cho ETH.

Một ngân hàng có thể sử dụng tiêu chuẩn, phần mềm hoặc kiến trúc tương thích Ethereum nhưng vận hành phần lớn giao dịch trên một mạng riêng. Trong trường hợp đó, Ethereum được công nhận về mặt công nghệ nhưng lượng ETH cần thiết cho hoạt động gần như không đáng kể.

Một tổ chức cũng có thể triển khai hệ thống trên Layer 2, chỉ gửi dữ liệu hoặc bằng chứng tổng hợp về Ethereum. Mô hình này vẫn sử dụng Ethereum làm lớp bảo mật và thanh toán cuối cùng, nhưng hàng nghìn giao dịch của người dùng có thể được gộp thành một số lượng nhỏ giao dịch trên Layer 1.

Ngay cả khi giao dịch được xử lý trực tiếp trên Ethereum, các ứng dụng vẫn có thể tài trợ phí cho người dùng hoặc cho phép khách hàng thanh toán bằng stablecoin và token khác. Ethereum đang phát triển các cơ chế giúp ứng dụng che giấu sự phức tạp của phí gas, khiến người dùng cuối không nhất thiết phải trực tiếp mua và giữ ETH.

Do đó, việc một ngân hàng nói rằng họ “xây dựng trên Ethereum” chưa trả lời được ETH sẽ thu giữ bao nhiêu giá trị từ hoạt động đó.

Kênh tạo giá trị trực tiếp nhất là phí giao dịch. Ethereum yêu cầu phí mạng lưới được thanh toán bằng ETH ở cấp độ giao thức. Phần base fee của mỗi giao dịch được đốt theo EIP-1559, trong khi priority fee được chuyển cho validator. Khi nhu cầu sử dụng không gian khối tăng, lượng ETH bị đốt cũng có thể tăng.

Nếu các hệ thống stablecoin riêng tư, trái phiếu token hóa hoặc thanh toán xuyên chuỗi của EthSystems tạo ra lượng giao dịch lớn trên Ethereum, chúng có thể làm tăng phí trả cho mạng lưới và lượng ETH bị loại khỏi nguồn cung.

Tuy nhiên, mối liên hệ này không hoàn toàn tuyến tính. Ethereum đang liên tục mở rộng năng lực xử lý và giảm chi phí giao dịch. Khi nguồn cung không gian khối tăng nhanh hơn nhu cầu, số lượng giao dịch có thể tăng mạnh nhưng tổng phí và lượng ETH bị đốt không nhất thiết tăng cùng tốc độ.

Điều này từng thể hiện rõ sau khi Ethereum đưa blob vào chiến lược mở rộng Layer 2. Chi phí đăng dữ liệu lên Ethereum giảm đáng kể, giúp các Layer 2 phục vụ nhiều người dùng hơn nhưng đồng thời làm giảm số ETH mà mỗi giao dịch tạo ra cho Layer 1.

Kênh tạo giá trị thứ hai là nhu cầu staking. Ethereum sử dụng ETH làm tài sản bảo đảm cho cơ chế đồng thuận. Validator phải stake ETH để tham gia xác nhận giao dịch và có thể bị phạt nếu vi phạm quy tắc mạng lưới. Về nguyên tắc, khi Ethereum trở thành lớp thanh toán cho lượng tài sản lớn hơn, nhu cầu kinh tế đối với một mạng lưới an toàn và lượng ETH bảo vệ mạng cũng trở nên quan trọng hơn.

Tuy nhiên, ngân hàng sử dụng Ethereum không bắt buộc phải tự mua ETH để trở thành validator. Họ có thể thuê hạ tầng, sử dụng nhà cung cấp staking hoặc đơn giản chỉ trả phí giao dịch. Vì vậy, việc tài sản token hóa tăng chưa chắc dẫn đến lượng ETH được stake tăng theo tỷ lệ tương ứng.

Kênh thứ ba mang tính gián tiếp hơn: ETH có thể trở thành tài sản thế chấp, tài sản dự trữ hoặc nguồn thanh khoản trung gian trong hệ thống tài chính xây dựng trên Ethereum.

Nếu các sản phẩm của EthSystems vẫn có khả năng kết nối với DeFi công khai, trái phiếu token hóa hoặc stablecoin tổ chức có thể được sử dụng trong lending, repo, thanh toán và quản lý tài sản thế chấp. Khi đó, ETH có thể hưởng lợi từ vai trò tài sản gốc có thanh khoản cao nhất trong hệ sinh thái.

Ngược lại, nếu mỗi ngân hàng hoạt động trong một môi trường riêng tư, được cấp quyền và tách biệt khỏi DeFi, phần lớn giá trị có thể nằm ở nhà phát hành stablecoin, đơn vị vận hành Layer 2, nhà cung cấp dữ liệu hoặc chính EthSystems. Ethereum chỉ nhận một khoản phí nhỏ cho việc xác nhận trạng thái cuối cùng.

Vì vậy, thành công thương mại của EthSystems và khả năng tăng giá trị cho ETH là hai kết quả khác nhau.

EthSystems có thể ký được nhiều hợp đồng, giúp hàng chục ngân hàng sử dụng tiêu chuẩn Ethereum và trở thành một công ty có doanh thu lớn, nhưng tác động tới ETH vẫn hạn chế nếu các hệ thống đó xử lý phần lớn hoạt động bên ngoài Layer 1.

Để đánh giá tác động thực tế, nhà đầu tư cần theo dõi bốn chỉ số: các hệ thống được triển khai trên mạng nào, lượng dữ liệu được gửi về Ethereum, tổng phí ETH phát sinh và mức độ tài sản tổ chức có thể kết nối với phần còn lại của hệ sinh thái.

Tín hiệu tích cực nhất không phải là một ngân hàng công bố thử nghiệm công nghệ của EthSystems. Đó phải là thời điểm các tổ chức bắt đầu sử dụng Ethereum thường xuyên như lớp thanh toán cuối cùng, tạo ra nhu cầu không gian khối, phụ thuộc vào validator và đưa tài sản token hóa vào một thị trường thanh khoản chung.

Chỉ khi đó, institutional adoption mới chuyển từ câu chuyện tốt cho thương hiệu Ethereum thành dòng giá trị có thể đo lường được đối với ETH.

5.0
★★★★★
1 đánh giá

Bài viết này có hữu ích không?

BitWolf 💎✋
BitWolf 💎✋

Founder

Không phải trader. Không phải KOL. Chỉ là người cố gắng hiểu thị trường một cách đúng đắn.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Phản hồi